Trong cuộc cách mạng y tế số, dữ liệu không chỉ là thông tin mà đã trở thành 'huyết mạch' vận hành các hệ thống trí tuệ nhân tạo (AI). Tuy nhiên, thách thức lớn nhất hiện nay là làm sao để sàng lọc được từ dữ liệu rác, bởi một hệ thống AI dù thông minh đến đâu cũng sẽ đưa ra những chẩn đoán sai lệch nếu đầu vào thiếu chuẩn xác. Bước ngoặt từ Khung dữ liệu AI Y tế 2026 - 2030 đã được định hình tại hội thảo 'Thúc đẩy hợp tác về AI y tế và Tập huấn quản trị, ứng dụng AI cho cán bộ y tế'. PGS.TS. Lê Hoàng Sơn trình bày tham luận về 'Khung dữ liệu AI y tế Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030', nhận diện các 'điểm nghẽn' cố hữu và đề xuất mô hình hợp tác 'Kiềng ba chân': Viện/Trường - Bộ Y tế - Bệnh viện/Sở Y tế. Đây được xem là lời giải cho bài toán chuẩn hóa dữ liệu tập trung, tạo môi trường huấn luyện AI minh bạch và có trách nhiệm. Trong nỗ lực hiện thực hóa mục tiêu tại Chiến lược quốc gia về AI đến năm 2030, Việt Nam đang nhanh chóng hoàn thiện 'luật chơi' để bắt kịp các tiêu chuẩn quản trị quốc tế như EU AI Act hay các nguyên tắc đạo đức của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Sự phát triển của AI y tế hiện nay không còn là hoạt động tự phát mà được bảo vệ và điều chỉnh bởi một hệ thống văn bản pháp luật chặt chẽ, tạo thành tấm 'lá chắn' cho sự phát triển bền vững. Luật Trí tuệ nhân tạo (Số 134/2025/QH15) đặt nền móng cho việc nghiên cứu và ứng dụng công nghệ này tại Việt Nam, đặc biệt nhấn mạnh vào việc bảo đảm an toàn tuyệt đối cho người bệnh, nâng cao độ tin cậy của AI trong điều kiện thực tế và bảo mật dữ liệu sức khỏe. Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân (Số 91/2025/QH15) tạo dựng niềm tin số bằng cách yêu cầu mọi quy trình thu thập và xử lý dữ liệu phải minh bạch, có sự đồng ý của chủ thể dữ liệu. Luật Dữ liệu (Số 60/2024/QH15) và Nghị định 102/2025/NĐ-CP quy định chi tiết về quản lý dữ liệu y tế, tạo cơ sở pháp lý để hình thành Cơ sở dữ liệu y tế Quốc gia và Hồ sơ sức khỏe điện tử. Quy trình xử lý dữ liệu được yêu cầu phải tuyệt đối minh bạch và bảo đảm an ninh quốc gia. Quyết định số 2038/QĐ-BYT (ngày 23/6/2025) phê duyệt kế hoạch triển khai Nghị định 102 là minh chứng cho quyết tâm chính trị mạnh mẽ của Bộ Y tế, giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị chuyên trách để hiện thực hóa Khung dữ liệu AI trong giai đoạn tới. Dù đã ghi nhận những bước tiến dài trong công cuộc chuyển đổi số, song để đạt được sự 'sẵn sàng' toàn diện cho kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, hệ thống y tế Việt Nam hiện đang phải đối diện với năm thách thức cốt lõi cần được giải quyết triệt để. Song hành với đó là những hạn chế về năng lực quản trị. Tại nhiều cơ sở khám chữa bệnh, hạ tầng kỹ thuật và quy trình quản lý dữ liệu lớn vẫn còn bộc lộ nhiều điểm yếu. Các giải pháp bảo mật hiện tại chưa đủ mạnh mẽ để đáp ứng những yêu cầu khắt khe từ các đạo luật mới về bảo vệ dữ liệu cá nhân, đặt ra rủi ro lớn trong việc lưu trữ và xử lý thông tin y tế. Việc xây dựng hệ thống quản trị AI y tế hiệu quả không chỉ đòi hỏi sự nỗ lực của ngành y tế mà còn cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan để đảm bảo an toàn và hiệu quả cho người bệnh.

Việc xây dựng hệ thống quản trị AI y tế hiệu quả không chỉ đòi hỏi sự nỗ lực của ngành y tế mà còn cần sự phối合一体化管理,确保数据安全与隐私保护。此外,还需要加强跨部门合作,包括卫生、科技和教育部门之间的协作,共同推动AI技术在医疗领域的应用和发展。

为了实现这些目标,政府和医疗机构需要投入更多的资源和支持,以培训专业人才并建立必要的基础设施。同时,公众也需要被充分告知AI技术的优势与局限性,以便他们能够更好地理解和接受这一变革。只有通过多方共同努力,才能确保AI技术真正造福于人民健康,推动医疗行业的可持续发展。

在未来的几年里,随着政策的不断完善和技术的进步,我们有理由相信,AI将在医疗领域发挥更大的作用,为患者提供更精准、高效的服务。这不仅将改善医疗服务的质量和效率,还将有助于提高整个社会对健康的重视程度,从而促进全民健康水平的提升。
Theo bài viết của XU HƯỚNG 24
Bình luận